Thông báo mới

Lịch sử hình thành

E-mail Print PDF
cucthuy.org.vn | cuc thu y

Ở những năm Thập kỷ Sáu mươi của Thế kỷ XX, nền sản xuất nông nghiệp của các tỉnh phía bắc (từ Quảng Bình trở ra) phát triển trên cơ sở tập thể hoá. Quy mô hợp tác xã thôn, bản và hợp tác xã toàn xã đã xuất hiện. Nhiều thôn, xã có trại chăn nuôi tập thể quy mô hàng ngàn lợn như huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình. Sự phát triển chăn nuôi như trên rất cần có thú y viên để thực hiện phòng chống dịch tại cơ sở.

Để đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, Bộ Nông nghiệp đã thành lập các đoàn chỉ đạo. Đáng chú ý là đoàn chỉ đạo ở tỉnh Hà Bắc và Hải Dương đã xây dựng được mô hình chăn nuôi tập thể và mạng lưới thú y nhân dân, ở các huyện có Trạm Thú y huyện.

Trong thời gian này tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm xảy ra liên miên. Dịch nhiệt thán xảy ra ở nhiều tỉnh miền núi làm chết nhiều trâu, bò, lây sang hàng chục người và có nguy cơ lây xuống đồng bằng. Bệnh dịch tả lợn xảy ra trên diện rộng, gây chết hàng nghìn lợn. Lúc này hầu khắp các tỉnh đều có dịch tả lợn.Trong khi đó lực lượng thú y của Phòng Thú y thuộc Vụ Chăn nuôi thiếu về số lượng và yếu về năng lực, trình độ. Lúc đó chỉ có 4 đồng chí cán bộ thú y lão thành, một số đồng chí bộ đội chuyển ngành, còn lại hầu hết là cán bộ mới ra trường, trong đó da số là cán bộ trung cấp. Các thiết bị chẩn đoán thiếu và lạc hậu, cơ sở thú y ở tỉnh không có tổ chức chẩn đoán nên mỗi lần có dịch đều phải điện về trung ương đề nghị giúp đỡ. Phòng Thú y phải huy động toàn bộ lực lượng xuống chẩn đoán và chỉ đạo chống dịch, có lúc phải huy động cả cán bộ chăn nuôi đi chống dịch.

Công tác kiểm dịch và kiểm soát giết mổ lúc đó vừa tách khỏi Bộ Ngoại thương , lực lượng giàn mỏng ở 7 Trạm cửa khẩu, Phòng Thú y chỉ còn hai cán bộ kiểm dịch. Trong khi việc phát triển chăn nuôi đòi hỏi phải có sự giao lưu hàng hoá động vật và sản phẩm động vật với một số nước thì cơ sở pháp lý (Điều lệ Thú y) của ta còn quá đơn giản, không cụ thể, Phòng Thú y thì không đủ tư cách pháp lý để đàm phán ký kết các Hiệp định, các điều kiện vệ sinh thú y trong trao đổi hàng hoá động vật, sản phẩm động vật, nên việc xuất nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật gặp nhiều khó khăn.

Công tác kiểm dịch nội địa không thực hiện được vì các tỉnh không có cán bộ chuyên trách, nên khi dịch bệnh xảy ra thường có cơ hội lây lan nhanh.Công tác kiểm soát giết mổ ở một số tỉnh lại thuộc về ngành thương nghiệp quản lý (cán bộ thú y tại các lò mổ thuộc biên chế của ngành thương nghiệp) nên việc kiểm soát không nghiêm, làm dịch bệnh lây lan và ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng.

Trong khi đó, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5 (Khoá III) về kế hoạch phát triển nông nghiệp 5 năm đã chỉ rõ “trong 5 năm tới về cơ bản tiêu diệt dịch tả lợn, dịch nhiệt thán và dịch toi gà Niucatxơn, đồng thời hạn chế các dịch bệnh khác xảy ra hàng năm, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng trâu bò đổ ngã vụ đông xuân”.

Chấp hành Nghị quyết của TƯ Đảng, đồng thời xuất phát từ yêu cầu thực tiễn chăn nuôi ngày càng phát triển, tình hình lây lan của dịch bệnh gia súc gia cầm và yêu cầu mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, tháng 6/1966, Bộ Nông nghiệp ra Quyết định tách Phòng Thú y thuộc Vụ Chăn nuôi – Thú y thành lập Cục Thú y.

Cục Thú y, 40 năm xây dựng và phát triển

Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Cục Thú y qua các giai đoạn 1966 – 1976

Sau khi thành lập, tổ chức bộ máy của Cục Thú y như sau:

  • Phòng Tổ chức Tổng hợp
  • Phòng Dịch tễ
  • Phòng Kiểm dịch động vật
  • Phòng Mạng lưới và Tổ chức ngành

Các đơn vị trực thuộc:

Tổ Chẩn đoán Thú y

Các Trạm Kiểm dịch động vật xuất nhập khẩu (XNK): Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Đăng, Lào Cai, Nghệ An, Pò Tập, Mộc Châu, trong đó có một số trạm không hoạt động như Pò Tập, Mộc Châu.

1976 -1978

Tháng 1/1976, Cục Thú y tách khỏi Viện Thú y và tổ chức bộ máy gồm :

  • Phòng Tổ chức Tổng hợp
  • Phòng Chẩn đoán
  • Phòng Dịch tễ
  • Phòng Kiểm dịch động vật và Kiểm soát sát sinh
  • Phòng Mạng lưới và Tổ chức ngành
  • Các đơn vị trực thuộc: Các Trạm Kiểm dịch động vật XNK

1978 -1993

Ngày 12/4/1978, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp ra Quyết định số 120 NN-TC-QĐ quy định bộ máy của Cục Thú y như sau:
Văn phòng Cục đặt ở Hà Nội, gồm:

  • Phòng Tổ chức Tổng hợp (bao gồm cả tổ chức và kế hoạch vật tư, tài chính)
  • Phòng Dịch tễ
  • Phòng Kiểm dịch động vật và Kiểm soát sát sinh
  • Phòng Mạng lưới và Tổ chức ngành

Các đơn vị trực thuộc, gồm:

  • Các Trạm Thú y Vùng: Trạm Thú y II đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trạm Thú y III đặt tại Cần Thơ, Trạm Thú y Trung trung bộ đặt tại Đà Nẵng.
  • Các Trạm Kiểm dịch động vật xuất nhập khẩu Vùng: Hà Nội, Đồng Đăng, Lào Cai, Khu 4 và TP Hồ Chí Minh,
  • Trạm Chẩn đoán Thú y trung ương.

Quyết định số 411 NN-TC-QĐ ngày 11/12/1986 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp về tổ chức bộ máy công tác thú y: ở Trung ương, Cục Thú y là cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng thống nhất quản lý nhà nước về công tác thú y trong cả nước đối với các loại hình tổ chức và sở kinh tế.

1993 - 2003

Ngày 30/12/1993, Quyết định số 747 NN-TCCB/QĐ của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quy định cơ cấu bộ máy của Cục Thú y :

Các phòng chức năng:
  • Hành chính Tổng hợp
  • Tài chính Kế toán
  • Quan hệ Quốc tế và Khoa học
  • Dịch tễ
  • Kiểm dịch, Kiểm soát giết mổ
  • Quản lý thuốc
  • Thanh tra pháp chế
  • Cơ quan thường trực (đóng tại thành phố Hồ Chí Minh)
  • Các Đơn vị trực thuộc:

    I . 6 Trung tâm Thú y Vùng phụ trách 6 khu vực: Trung tâm Thú y Vùng Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ.

    - Các Trung tâm chuyên ngành :
    • Trung tâm Chẩn đoán Thú y trung ương.
    • Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc thú y trung ương I, II.
    • Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y trung ương I, II.

    II. 12 Trạm Kiểm dịch động vật cửa khẩu.

    Ngày 28/5/1996, Thủ tướng Chính Phủ có Quyết định số 348/TTg quy định chức năng, nhiệm vụ của Cục Thú y: Cục Thú y là cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện chức năng Quản lý nhà nước về công tác phòng chống dịch bệnh động vật, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và thuốc thú y trong phạm vi cả nước

    Từ 2003

    Ngày 4/9/2003, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT ra Quyết định số 89/2003/QĐ-BNN quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Thú y. Trong Quyết định nêu rõ: Cục Thú y là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, thực hiện chức năng quản lý nhà nước và thanh tra chuyên ngành về thú y trong phạm vi cả nước.

    Theo Quyết định trên, tổ chức bộ máy của Cục Thú y như sau:

    - Lãnh đạo Cục: gồm Cục trưởng và các Phó Cục trưởng

    - Bộ máy quản lý của Cục:

    1. Phòng Hành chính – Tổ chức
    2. Phòng Tài chính
    3. Phòng Kế hoạch (Khoa học và Hợp tác quốc tế)
    4. Phòng Thanh tra – Pháp chế
    5. Phòng Dịch tễ thú y
    6. Phòng Kiểm dịch động vật
    7. Phòng Quản lý thuốc thú y
    8. Bộ phận Thường trực tại thành phố Hồ Chí Minh

    - Các đơn vị trực thuộc:

    Trung tâm Thú y Vùng:

    1. Trung tâm Thú y Vùng Hà Nội;
    2. Trung tâm Thú y Vùng Hải Phòng;
    3. Trung tâm Thú y Vùng Vinh;
    4. Trung tâm Thú y Vùng Đà Nẵng;
    5. Trung tâm Thú y Vùng TP Hồ Chí Minh
    6. Trung tâm Thú y Vùng Cần Thơ

    Trung tâm chuyên ngành

    1. Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương;
    2. Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc Thú y trung ương I;
    3. Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc thú y trung ương II;
    4. Trung tâm Kiểm tra Vệ sinh thú y trung ương I;
    5. Trung tâm Kiểm tra Vệ sinh thú y trung ương II.

    Các trạm Kiểm dịch động vật cửa khẩu

    1. Bắc Luân, Ca Long, Hạ Long (Quảng Ninh)
    2. Ga Đồng Đăng, Hữu nghị, Cốc Nam, Tân Thanh, Chi Ma (Lạng Sơn)
    3. Lào Cai (Là Cai)
    4. Cầu Treo (Hà Tĩnh)
    5. Lao Bảo (Quảng Trị)
    6. Mộc Bài (Tây Ninh)
    7. Tịnh Biên, Vĩnh Xương (An Giang).

    Cùng với việc tổ chức được củng cố, nguồn nhân lực của Cục Thú y cũng được cải thiện. Sau khi được thành lập, Cục Thú y chỉ có một số đồng chí cán bộ thú y lão thành, một số bộ đội chuyển ngành, còn đại đa số là cán bộ mới ra trường, mà chủ yếu là cán bộ trung cấp. Đến nay Cục đã có 299 cán bộ công chức, viên chức. Trong đó có 18 tiến sĩ, 35 thạc sĩ, 187 cán bộ có trình độ đại học, 20 cán bộ trung cấp. Nhiều cán bộ đã được đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ và tập huấn kỹ thuật ở nước ngoài.

user

user

user

Thống kê